Skip Ribbon Commands
Skip to main content
 

GIỚI THIỆU CHUNG HUYỆN KRÔNG NÔ

Huyện Krông Nô được thành lập ngày 09/11/1987, theo Quyết định 212/HĐBT, của Hội đồng Bộ trưởng - có diện tích tự nhiên 813 km2, địa hình tương đối phức tạp; trung tâm huyện đặt tại thị trấn Đắk Mâm, cách Gia Nghĩa 120km. Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Đăk Lắk, phía Nam giáp huyện Đắk G’long, phía Tây Bắc giáp huyện Đắk Mil, dân số trung bình 62.832 người, mật độ dân số 77,28 người/km2.

Là một trong hai huyện tại Đắk Nông có dòng Sêrêpốk chảy qua tạo nên nhiều thác nước đẹp, hùng vĩ như Đray Sáp hay hồ EaSnô từ lâu đã là những địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch khi đến nơi đây. Hiện tại, những khu vực này đang được quy hoạch và các dự án khai thác hoạt động du lịch đang được kêu gọi đầu tư.

Huyện Krông Nô nằm phía Đông của tỉnh Đăk Nông, có tổng diện tích tự nhiên 81.365,7 ha, được chia thành 12 đơn vị hành chính gồm 11 xã và 01 thị trấn; có toạ độ địa lý từ 12o11’16” đến 12o33’12” độ vĩ Bắc và từ 107o41’52” đến 108o05’41” độ kinh Đông; - Phía Nam giáp huyện Đăk G’long, tỉnh Đăk Nông;  Phía Bắc giáp huyện Cư Jút và huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, Phía Tây giáp huyện Đăk Mil và huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông, Phía Đông giáp huyện Krông Ana và huyện Lắk, tỉnh ĐắkLắk.

Krông Nô có nhiều danh lam, thắng cảnh để phát triển du lịch như thắng cảnh Dray sáp, Dray Sáp Thượng, thác Gia Long, khu căn cứ cách mạng B4 – Liên tỉnh IV Nâm Nung, Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N’Trang Gưh đã được Bộ VHTT&DL xếp hạng và cấp bằng  Di tích lịch sử . Ngoài ra còn có hồ Easnô và thác Ba tầng Nâm Nung, thuỷ điện Tu Sah là những thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp có thể khai thác du lịch sinh thái

Huyện Krông Nô có 65.924 người, thuộc 20 thành phần dân tộc, Trong đó có 02 dân tộc bản địa (M’nông prech và Ê Đê bih) cư trú tại 101 thôn, buôn, bon, tổ dân phố của 12 xã, thị trấn, . Do tính chất đa sắc tộc nên Krông Nô rất phong phú và đa dạng về văn hoá, trong đó có sự giao thoa, đan xen văn hoá của các vùng miền trong cả nước

Krông Nô – Đọc đúng theo âm của đồng bào M’ Nông là Krông Knô- là tên gọi của  của con sông lớn nằm giữa hai huyện Krông Na tỉnh Đăk Lăk và huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông, Trong đó Krông nghĩa là sông, Knô là đực. Krông Knô nghĩa là sông đực

Gắn liền với hai con sông Krông Nô và Srêpốk là một hệ thống sông, suối, hồ, đầm phong phú như các suối Đắk N'Tao, Đắk R'Mâng, Đắk Ro Hyô, Đắk Đoar, Đắk Năng, Đắk Mâm, Đắk Đrout, Đắk Sor, Đắk Bri, Đắk Rô, Đắk N'Teng,... hồ Đắk N'Tir, Đắk R'Bis, Đắk Đéh,... trong đó lớn nhất là hồ Ea Snô. Các sông, suối, đầm hồ trên địa bàn huyện có nhiều loài thủy sản nước ngọt phong phú như cá rô, cá trê, cá lúi, cá thát lát, cá quả, cá chép,... bên cạnh đó là các loài cá sấu, ba ba.

Điều kiện tự nhiên – xã hội:

Địa hình huyện Krông Nô đa dạng và được chia thành ba dạng chính:

- Dạng địa hình núi cao: phân bố về phía Tây và phía Nam của huyện, chiếm khoảng 51% tổng diện tích tự nhiên. Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc trung bình cấp V, VI, độ cao trung bình từ 800 – 1.200 m so với mặt mước biển, các xã Đắk Nang, Đức Xuyên, Nâm Nung, Nâm N’Đir, khu bảo tồn Nam Nung mang nét đặc trưng của dạng địa hình này.

- Dạng địa hình đồi núi thấp đến trung bình: tập trung ở phía Bắc và trung tâm huyện, chiếm khoảng 39% tổng diện tích, độ cao trung bình 450-600 m so với mặt nước biển, địa hình bị chia cắt; độ dốc trung bình cấp II đến cấp IV. Tập trung ở các xã Đăk Sôr, Nam Đà, thị trấn Đắk Mâm, đây là dạng địa hình được hình thành từ đá mẹ chủ đạo là đá sét và biến chất, đá bazan và đá granit. Qua trình hình thành đất chủ đạo là phong hoá tích luỹ Fe – Al tương đối, quá trình sói mòn rửa trôi đất.

- Dạng địa hình thung lũng: Tập trung phía Đông, dọc theo dòng sông Krông nô và các suối lớn, chủ yếu ở các xã Đức Xuyên, Buôn Chóah, Đắk Nang, Nâm Đ’Nir chiếm khoảng 10% tổng diện tích, độc dốc trung bình cấp I, II, độ cao trung bình 400-450 m so với mặt nước biển. Khu vực này chủ yếu được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa, hình thành nên những cánh đồng màu mỡ ven sông Krông nô và các suối chính trên địa bàn.

Di tích lịch sử - văn hóa

Krông Nô còn có các di tích lịch sử như: Khu căn cứ cách mạng B4 – Liên tỉnh IV nâm Nung, Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N’Trang Gưh đã được Bộ VHTT&DL xếp hạng và cấp bằng  Di tích lịch sử

Nhân dân các dân tộc huyện Krông Nô vốn có truyền thống đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm lâu đời, Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc mỹ nơi đây đã từng diễn ra nhiều cuộc kháng chiến oanh liệt và cũng là nơi đảng ta chọn làm vị trí khu căn cứ cách mạng B4 – Liên tỉnh IV Nâm Nung.

  Ở Krông Nô, người M'Nông và người Ê Đê được coi là những tộc người bản địa có nhiều đặc trưng văn hoá, thể hiện bản sắc của vùng đất này, gồm 12 dân tộc anh em cùng sinh sống

Các lễ hội chủ yếu của đồng bào dân tộc tại chỗ bao gồm: lễ hội cúng Bến nước, lễ hội M’Găpbon, lễ hội Cầu mưa, lễ hội Mừng lúa mới và lễ hội tăm Plang prang bon, Lễ đặt tên....Ngoài ra một số đồng bào dân tộc phía Bắc còn có một số lễ hội khác như Lễ hội Ném Còn, lễ hội Loòng Tòng..vv

Tài nguyên thiên nhiên:

1. Tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản:

a. Tài nguyên đất

Theo tài liệu điều tra đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp năm xây dựng 1978 và các tài liệu điều tra bổ sung năm 2005, trên địa bàn có 8 nhóm đất chính với 14 loại đất  như sau:

(Nguồn: Tổng hợp từ Bản đồ đất Đăk Nông - Viện QHTKNN 2005)

* Nhóm đất bãi cát, cồn cát:

Diện tích: 220 ha, chiếm 0,3% diện tích tự nhiên toàn huyện, tập trung ở các xã Buôn Choáh, Đức Xuyên, Đắk Nang, Quảng Phú. Độ dốc cấp I, thành phần cơ giới cát, một số nơi có cơ giới cát pha nhưng tỷ lệ sét không vượt quá 12%; hàm lượng OM tổng số rất nghèo, các chất tổng số khác như: N, P2O5, K2O đều rất thấp. Các chất dễ tiêu rất nghèo: lân dễ tiêu <3,2mg/100 g đất, kali trao đổi < 5,2mg/100 g đất. Đất cát bằng ven sông có ưu điểm địa hình khá bằng phẳng, độ ẩm khá nên có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu thích hợp trồng các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày; trong quá trình canh tác cần được bón đầy đủ và cân đối các loại phân vô cơ, đầu tư bón bổ sung nhiều phân hữu cơ nhằm tăng tính đệm, tăng khả năng giữ ẩm và giữ các chất dinh dưỡng trong đất.

* Nhóm đất phù sa:

Diện tích khoảng 6.077 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên toàn huyện, được hình thành do sông suối mang phù sa bồi đắp nên, đất giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dày, có màu xám, đen; vùng ngập nước đất bị Glây. Đây là nhóm đất có ưu thế phát triển các loại cây trồng lương thực thực phẩm đặc biệt là lúa nước, mía đường, rau quả các loại... Trong đó nhóm đất phù sa được bồi hàng năm có diện tích 3.135 ha chiếm 51,6% diện tích nhóm đất, được phân bố tập trung ở vùng trũng Buôn Chóah, Đức Xuyên, Đắk Nang, Quảng Phú; đất phù sa glây diện tích 2.942 ha chiếm 48,4% diện tích nhóm đất. Đất phấn bố ở độ dốc cấp I; được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông Krông Knô. Diện tích còn lại trong nhóm phân bố rải rác và có những hạn chế nhất định cho sản xuất nông nghiệp, đất phù sa úng nước, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, cần có biện pháp xây dựng cải tạo đồng ruộng, chủ động nguồn nước tưới tiêu đảm bảo nhu cầu nước cho cây trồng.

* Nhóm đất xám:

Diện tích 3.272 ha chiếm 4% diện tích tự nhiên tòan huyện; trong đó:

- Đất xám trên phù sa cổ (X): diện tích 1.985,0 ha, chiếm 2,4% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở cấp độ dốc I (00 - 30). Quá trình hình thành cơ bản là quá trình rửa trôi và xói mòn bề mặt xẩy ra trong tự nhiên và quá trình canh tác lâu dài của con người đã dẫn đến sự thay đổi một số tính chất lý hoá học ban đầu của đất. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, từ cát pha đến thịt nhẹ ở tầng mặt và chuyển dần sang cơ giới thịt trung bình ở tầng dưới (sét >30%), lẫn nhiều sạn sỏi thạch anh. Tầng đất thường mỏng dưới 70 cm, hàm lượng các chất dinh dưỡng đều thấp, OM tổng số <1% (0,1-0,4%), lân tổng số và lân dễ tiêu đều nghèo (0,03% và 1,5-1,6 mg/100g đất), kali tổng số: 0,4-0,7%, kali dễ tiêu 2-4 mg/100g đất, cation trao đổi nghèo: phổ biến ở​ mức 3-6 lđl/100g đất. Đất xám trên macma acid thường có tầng mỏng dưới 70 cm, thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày, ở địa hình ít dốc có thể trồng màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày. Phân bố chủ yếu ở các xã Quảng Phú, Nam Nung, Nam Đà, Đắk Drô.

- Đất xám trên đá cát và granit (Xa): diện tích 279,0 ha, chiếm 0,3% diện tích tự nhiên phân bố ở cấp độ dốc cấp II ( 30 - 80) đất có tầng dày từ 30cm đến > 70cm. Đất có thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, độ phì của đất kém, nghèo lân. Phân bổ chủ yếu ở xã Quảng Phú, đất thích hợp cho sự phát triển của cây hàng năm, ở những nơi đất có tầng dày có thể phát triển trồng cây điều.

- Đất xám trên đá cát (Xq): diện tích 1.008,0 ha, chiếm 1,2% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở độ dốc cấp II (30 - 80), đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng, thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc cây ăn quả. Phân bố chủ yếu ở xã Tân Thành, Quảng Phú, Đắk Drô.

* Nhóm đất đen:

Diện tích 1.811 ha chiếm 2,2% diện tích tự nhiên tòan huyện; trong đó:

- Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan (Rk): diện tích 1.214,0 ha, chiếm 1,6% tổng diện tích tự nhiên. Đất hình thành do sản phẩm bồi tụ của bazan, đất có màu đen, hay đen xám; hàm lượng OM cao, có thể sử dụng vào trồng các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Phân bố ở độ dốc từ cấp II đến cấp VI, tập trung chủ yếu ở xã Đắk Sôr.

- Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt, bazan (Ru): diện tích 497,0 ha, chiếm 0,6% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Nam Xuân, Nam Đà. Đất hình thành do sản phẩm phong hoá của đá bọt và bazan, có màu nâu hơi đen. Địa hình khá bằng, ven thung lũng, phân bố ở độ dốc từ cấp II đến cấp III; phù hợp với cây công nghiệp dài ngày. Trong quá trình canh tác đất cần chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ tầng đất mặt.

* Nhóm đất đỏ vàng:

Diện tích 61.280 ha chiếm 75,3% diện tích tự nhiên tòan huyện; trong đó:

- Đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk) và đất nâu vàng trên đá bazan (Fu) có diện tích 11.869,0 ha, phân bố chủ yếu ở xã Tân Thành, Nam Xuân và một số rải rác ở xã Đắk Drô, Nam Nung, trên các địa hình lượn sóng, đất giàu các nguyên tố như Sắt, Nhôm, can xi, Magiê, Phospho, Kali, Natri... Đây là nhóm đất giàu dinh dưỡng, thích hợp với trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều và các loại cây ăn quả.

- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs): diện tích 49.411,0 ha, chiếm 60,7% tổng diện tích tự nhiên; phân bố phân lớn trên địa bàn huyện; được hình thành tại chỗ trên 3 loại đá mẹ là phiến sét, Gơnai, phiến mica đã phong hoá triệt để, có thành phần cơ giới thịt trung bình, đất ít xốp, mất nước đất trở nên chai rắn; loại đất này  hình thành trên địa hình đồi núi, có độ dốc biến đổi từ 8 - 300 tập trung nhiều ở độ dốc trên 200.

* Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi:

- Đât mùn đỏ trên đá sét và đá biến chất (Hs): diện tích 2.100,0 ha, chiếm 2,6% tổng diện tích tự nhiên; phân bố ở các xã Nâm Nung, Nâm N’Đir, Đức Xuyên. Đất hình thành trên tàn tích sa thạch, là loại đá trầm tích hạt thô, cấu tạo khối đặc, địa hình khá dốc 80 đến 150; độ phì nhiêu thấp, thành phần cơ giới nhẹ, phù hợp với cây lâm nghiệp.

* Nhóm đất thung lũng (D): Toàn huyện có khoảng 652,0 ha chiếm 0,8% diện tích tự nhiên, tập trung ở các xã Đắk Drô, Nâm Nung; đất được hình thành ở chân các thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất có chất lượng tốt, hàm lượng dinh dưỡng khá cao, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình. Loại đất này thích hợp với trồng cây hàng năm như canh tác lúa, lúa màu.

* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (E): diện tích 5.953,7 ha, chiếm 7,3% tổng diện tích tự nhiên. Phân bổ chủ yếu trên địa bàn xã Buôn Choah; đây là loại đất có nhiều hạn chế do tầng mỏng và lẫn nhiều đá cứng và kết von, đá ong. Trên đất xói mòn trơ sỏi đá thường có lớp thực vật thưa thớt, sỏi đá nổi lên mặt và đang bị tác động mạnh của xói mòn, gây hậu quả xấu đối với vùng đất thấp phía dưới.

b. Tài nguyên nước

a. Nước mặt:

Nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 mm – 1.900 mm, đã được tiếp nhận và dự trữ từ ở các con sông suối và nhiều hồ chứa năm rải rác trên địa bàn huyện; tạo thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.

Mặc dù tiềm năng nước mặt khá dồi dào, nhưng một phần diện tích mặt bằng cần tưới là các cao nguyên thì lại rất thiếu nước mặt, do không có điều kiện để làm công trình tưới. Đồng thời sự phân hóa sâu sắc của lượng mưa trong năm khiến cho mùa mưa nước mặt dư thừa gây xói mòn, rửa trôi đất, còn trong mùa khô lại thiếu nước cho sản xuất.

b. Nước ngầm:

Theo kết quả lập bản đồ Địa chất thuỷ văn của Liên Đoàn ĐCTV- ĐCCT Miền Trung, nước ngầm trên địa bàn huyện chủ yếu vận động và thường tồn tại trong các khe nứt của đá phun trào bazan, độ sâu phân bố 15 đến 120 m. Nước có trữ lượng và chất lượng tốt, đảm bảo cho ăn uống, sinh hoạt và phục vụ cho các ngành công nghiệp. Trong những năm gần đây mực nước ngầm có xu thế xuống thấp nguyên nhân chủ yếu do biến đổi khí hậu và diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm đi; đồng thời do việc khai thác để phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp chưa hợp lý.

c. Tài nguyên rừng

*. Thực vật rừng

- Theo số liệu Thống kê đất đai năm 2010, tính đến nay toàn huyện có 31.528,7 ha đất lâm nghiệp có rừng, chiếm 38,75% diện tích tự nhiên. Trong đó rừng sản xuất 21.309,72 ha chiếm 67,6% diện tích đất lâm nghiệp; đất rừng đặc dụng 10.218,98 ha chiếm 32,4% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố ở khu bảo tồn Nam Nung, khu vực thác Dray Sap.

- Trạng thái rừng chủ yếu là rừng trung bình, rừng nghèo và rừng phục hồi; độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện là 46%. Rừng tự nhiên của huyện Krông Nô có nhiều loại gỗ quý như: trắc, căm xe, giáng hương,...

*. Động vật rừng

Với diện tích rừng khá lớn cùng với sự đa dạng của địa hình, khí hậu nên số lượng và chủng loại động vật đa dạng với nhiều loài động vật như:  khỉ, gà, lợn rừng..., các loài bò sát như: tắc kè, kỳ đà… Động vật rừng phong phú và đa dạng, đây là nơi chứa nhiều nguồn gen động vật quý có giá trị và ý nghĩa rất lớn cho công tác nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên do nạn phá rừng cùng với săn bắn khai thác bừa bãi, đã làm cho nguồn tài nguyên phong phú này có nguy cơ bị cạn kiệt.

d. Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu thăm dò khảo sát của ngành địa chất cho thấy tại Krông Nô có cấu trúc địa chất phức tạp, không đa dạng về tài nguyên khoáng sản. Một số loại khoáng sản như:

- Cát, sỏi: phân bố dọc bên sông Krông Knô, tập trung chủ yếu ở các xã Buôn Choáh, Đức Xuyên, Đắk Nang, Quảng Phú... hiện nay chưa có nghiên cứu đánh giá chi tiết về trữ lượng tại khu vực này. Các hình thức khai thác còn tự phát chưa có quy hoạch cụ thể.

- Sét gạch ngói tập trung ở Đăk Sôr, Nam Đà, Đức Xuyên, Quảng Phú, nhưng có trữ lượng không nhiều, chủ yếu phục vụ nhu cầu xây dựng tại chỗ và một số vùng lân cận.

- Đá granit: diện tích và trữ lượng khá lớn, thành phần có độ phân khối lớn, đá có hạt trung bình; màu xám đốm đen và có độ bóng cao, tập trung chủ yếu ở xã Quảng Phú, Nâm Nung, Buôn Choáh…

           Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của huyện không đa dạng và phong phú nhưng có ý nghĩa quan trọng cho phát triển một số ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu xây dựng...
Liên kết Website

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
1
1
8
1
3
5

SỐ LƯỢT ĐANG ONLINE

0
0
0
0
0
1
0